Vài nét về linh đạo Đức cha Lambert – Phần II: Cầu nguyện (3)

Vài nét về linh đạo
Đức cha Lambert

 

Những chữ viết tắt

 

AMEP = Archives des Missions Étrangères de Paris (Thư khố Hội Thừa Sai Paris).

APF = Archivio Storico di Propaganda Fide (Thư khố bộ Truyền Giáo tại Rôma).

Bài Viết = Bài Viết Của Đức Cha Lambert, 2012.

Brisacier = Jacques-Charles de Brisacier, Cuộc Đời Đức Cha Lambert de la Motte, Giám Mục Hiệu Toà Béryte, 2015.

Đặc Sủng = Đặc Sủng Mến Thánh Giá, 2012.

 

Giới thiệu

Năm 2016 này, tôi lại về Việt Nam gặp gỡ và thuyết trình tại vài hội dòng Mến Thánh Giá. Một trong các đề tài được yêu cầu là :

« Chúng con xin Cha trình bày đề tài về Linh Đạo Đức Cha Lambert cách cụ thể để chị em có thể ứng dụng vào thực tế ».

Nhưng để trình bày đề tài này, chúng ta sẽ phải đề cập tới những giáo huấn của Đức cha Lambert vừa lý thuyết lại vừa trừu tượng. Thật khó cho các nữ tu theo dõi và ghi nhớ. Từ đó, tôi mới nghĩ rằng một tập ghi chú những lời dạy của Đức cha Lambert về linh đạo của ngài có thể sẽ hữu ích cho các nữ tu.

Tập tài liệu này được soạn ra vì lý do và mục đích đó.

 

Tại Pháp, ngày 10.06.2016

Lm. Đào Quang Toản

 

 

 

Phần II

Cầu nguyện

 

Những chuyện cầu nguyện

Những lời cầu nguyện

Những lời dạy về cầu nguyện

Cầu nguyện theo Đức cha Lambert

 

 

Cầu nguyện theo Đức cha Lambert

 

 

Sau khi đọc các trang ký sự, nhật ký và thư từ của Đức cha Lambert, chúng ta vẫn không hề gặp thấy được một bản văn nào của ngài chỉ dẫn về phương pháp cầu nguyện cả. Thật ra, ngài có trình bày một lần về việc cầu nguyện nơi các thừa sai[1], nhưng bài viết của ngài không dễ hiểu, vì ngài « không nhắm tới những người mới khởi đầu »[2]. Do đó, những dòng sau đây chỉ là việc sưu tập lại những gì liên quan tới sự cầu nguyện nơi Đức cha Lambert, rồi từ đó chúng ta cố gắng khám phá ra cách thức cầu nguyện nơi ngài. Hy vọng qua công việc này, chúng ta sẽ hiểu được phần nào điều chúng ta tìm kiếm, đó là phương pháp cầu nguyện của Đức cha Lambert.

 

1, Vị thẩm phán

Khi còn là một giáo dân, Đức cha Lambert đã là một người chuyên chăm cầu nguyện. Người viết tiểu sử ngài kể về thời ngài làm thẩm phán tại Rouen rằng :

« Ngài dọn chỗ đến ở bên cạnh trường học của các cha dòng Tên. Cứ năm giờ sáng mỗi ngày, ngài đều đến nhà thờ các cha dòng để nguyện ngắm (méditation) và đọc kinh nhật tụng theo lòng đạo đức riêng. Sau đó ngài về nhà để lắng nghe các bên kiện cáo đang đợi. Vì mỗi khi tới Tòa án Thuế vụ, ngài phải đi ngang qua nhà thờ chánh tòa, ngài ghé vào để dâng cho Đức Mẹ những án xử ngài sắp phải giải quyết. Sau khi kết thúc phiên toà, trên đường về ngài cũng lại ghé vào dâng cho Đức Mẹ các án xử vừa thực hiện. » (Brisacier, 15)[3].

Đọc mấy dòng tiểu sử trên, chúng ta thấy rằng :

a, cầu nguyện là việc đầu tiên trong ngày của Đức cha Lambert.

b, cầu nguyện nơi ngài là việc suy niệm (méditation).

c, ngài cầu nguyện chung với một cộng đoàn các tu sĩ, bằng những lời kinh chính thức (phụng vụ) của Giáo Hội.

d, cầu nguyện là dâng lên Đức Mẹ những công việc làm bình thường của ngài.

e, trên đường đi và đường về, ngài đều ghé vào nhà thờ để cầu nguyện. Như vậy, ngài đã tìm đến một nơi thích hợp nhất cho việc cầu nguyện.

Chúng ta thấy nơi đây cách thức cầu nguyện của vị thẩm phán Lambert là những cách thức rất quen thuộc nơi các Kitô hữu, gần như tín hữu nào cũng có thể làm được.

 

2, Ông Bernières

Cuối năm 1654, ngài đến sống một thời gian tại Caen bên cạnh ông Bernières, một giáo dân thánh thiện đã từng chỉ dạy đường tu đức cho nhiều người. Cha Brisacier ghi nhận rằng : « Nhờ sự quan tâm của một vị thầy tài năng như vậy, ngài đã tiến những bước thật lớn trên con đường cầu nguyện » (Brisacier, 16)[4].

Đức cha Lambert đã được ông Bernières hướng dẫn thực tập việc cầu nguyện. Vậy, phương pháp cầu nguyện của ông Bernières là phương pháp nào ?[5]

Một cách tổng quát và giản lược, chúng ta thấy ông Bernières phân biệt sự cầu nguyện trong tâm trí ra thành hai loại khác nhau : suy niệm (méditation) và chiêm niệm (contemplation). Suy niệm là cách thức cầu nguyện bình thường, mọi tín hữu đều có thể thực hành được, dùng tâm trí mình mà đến với Thiên Chúa và hiểu biết Ngài cùng các mầu nhiệm đức tin. Chiêm niệm là ơn đặc biệt Chúa ban cho những ai Ngài muốn ; theo đó, nhờ ánh sáng Chúa ban, họ đến với Chúa mà hiểu biết cùng yêu mến Ngài. Trong khi chiêm niệm, ơn sủng của Chúa sẽ dẫn dắt họ, họ không còn chủ động nữa. Ông Bernières gọi đó là « cầu nguyện thụ động » (oraison passive).

Nhờ sự hướng dẫn của ông Bernières, Đức cha Lambert tỏ ra là một người say mê việc cầu nguyện và nhất là một người được Chúa ban cho ơn cầu nguyện chiêm niệm cao độ, điều mà chúng ta sẽ thấy sau này.

Đức cha Lambert đã học tập được nhiều điều nơi ông Bernières về việc cầu nguyện.

 

3, Yêu mến đời ẩn dật

Từ khi tới tĩnh tâm tại Ẩn Viện của ông Bernières, Đức cha Lambert đã đem lòng yêu thích « một lối sống ẩn mình, nghèo hèn, đau khổ và khiêm nhường trước mắt người đời » (Brisacier, 18). Đó là một lối sống rất thích hợp và cần thiết cho những ai muốn thực hành cầu nguyện, như lời ông Bernières đã dạy : « Một đời sống khó nghèo và khổ nhục, bị khinh dể và đau khổ, chỉ lo sự gì rất cần thiết, ngay trong cái ăn và cái mặc cũng thật khó nghèo ; đó là một cách sống thích hợp cho việc cầu nguyện. »[6]

Trong khoảng thời gian mấy tháng trời ngài ở Ẩn Viện, trước khi từ chức tại Toà Án Thuế Vụ và đi Paris với ông Bernières, « ngài rước lễ hằng ngày, ngài cầu nguyện hầu như liên tục, ngài không hề muốn nghe nói tới công việc, ngài không trò chuyện với ai cả. » (Brisacier, 22).

Đời sống ẩn dật ở đây là đời sống cầu nguyện, cầu nguyện là sống với Chúa, từ bỏ tất cả những gì không thuộc về Chúa, ở bên ngoài xã hội cũng như ở bên trong lòng trí của mình.

 

4, Thinh lặng

Song song với đời sống ẩn dật, thinh lặng là điều kiện không thể thiếu được để thực hành việc cầu nguyện.

Thinh lặng ở đây phải hiểu là thinh lặng bên ngoài cũng như thinh lặng bên trong nội tâm. Thinh lặng bên ngoài là tránh đi những ồn ào huyên náo đến từ công việc, giao tiếp xã hội, những cảm xúc vui buồn hay lo lắng do người khác hay do sự cố bên ngoài gây ra. Thinh lặng bên trong là những sinh hoạt của tâm trí mình, hoặc nói như ông Bernières, đó là « những hoạt động của mọi khả năng tinh thần mình, kể cả khả năng thiêng liêng như trí nhớ, trí suy luận và ý chí nơi mình »[7].

Yêu mến cầu nguyện, Đức cha Lambert yêu mến cả sự im lặng.

Tháng 5 năm 1655, ông Bernières dẫn ngài đi Paris, giới thiệu ngài vào chương trình truyền giáo Canada. Sau một tháng ở lại Paris, một mình ngài trở về Caen bằng đường sông. « Suốt hành trình ngài giữ thinh lặng, không chuyện trò với ai cả. Tại Rouen, ngài không muốn tìm gặp lại một bạn hữu nào. Ngài đi đường sông trên một con thuyền dành cho giới bình dân, chen chúc lẫn lộn với đủ mọi hạng người »[8].

Khi giữ chức vụ giám đốc cơ quan từ thiện tại Rouen, với rất nhiều công việc và tiếp xúc xã hội, ngài vẫn luôn yêu mến và bảo tồn sự thinh lặng cần thiết cho đời sống cầu nguyện. « Mỗi ngày ngài thường bớt giờ ngủ để dành 4 hoặc 5 giờ lo cầu nguyện (oraison). Thời gian buổi sáng là để chuẩn bị cử hành thánh lễ. Ngài quyết định không chuyện trò với ai trước khi đóng thuế cho Chúa thời gian kinh nguyện và dâng lễ, và ngài xem đây là luật không thể bỏ qua. Buổi chiều tối như đóng dấu ấn cuối ngày cho mọi bận rộn thánh thiện của một ngày, và ngài luôn đến trước Thánh Thể để kết thúc. »[9]

Tóm lại, theo tinh thần của ông Bernières và theo chính thực hành của Đức cha Lambert, yêu mến đời sống ẩn dật và sự thinh lặng là điều kiện cần thiết cho việc cầu nguyện.

 

  5, Hành hương

Một trong những phương cách cầu nguyện của Đức cha Lambert là hành hương. Ngài đi bộ đến nơi này hoặc nơi nọ để cầu nguyện với Đức Mẹ hay với một vị thánh nào đó.

Ngài rất hay hành hương tới một đền thờ Đức Mẹ, cách thành phố Caen 15 cây số về hướng Bắc, gọi là « Notre Dame de la Délivrande ».

Cuộc hành hương được nhiều người nói tới nhất nơi ngài là cuộc hành hương khổ nhục vào cuối tháng 7 năm 1655, từ Caen tới Rennes, để làm tuần cửu nhật bên mộ vị tu sĩ nổi tiếng thánh thiện Jean de Saint-Samson.

Khi có dịp, ngài thích ghé chân đến cầu nguyện bên mộ những vị nổi tiếng thánh thiện, như Mẹ Marie de l’Incarnation ở dòng Kín tại Pontoise, thánh Fiacre tại Meaux, Mẹ Marguerite Thánh Thể tại Beaune, thánh giám mục Phanxicô Salêsiô tại Annecy, v.v.

Tại Paris cũng như tại Rôma, ngài luôn tìm đến cầu nguyện ở những nơi người ta tôn kính vị thánh này hay vị thánh nọ.

Với tinh thần đạo đức như vậy, chuyến đi của ngài từ Paris sang Rôma và từ Rôma trở về Paris vào năm 1657-1658, đã diễn ra như một chuyến hành hương, từ nơi tôn kính này sang nơi tôn kính khác, luôn tâm tình cầu nguyện không ngơi.

Hành hương để cầu nguyện cùng Đức Mẹ hay các thánh là một việc đạo đức quen thuộc và yêu thích của Đức cha Lambert, ít nữa là cho tới ngày ngài rời nước Pháp và đặt chân lên « các miền đất dân ngoại » (in partibus infidelium).

 

6, Công đồng Ayutthaya năm 1664

Hai Đức cha Pallu và Lambert chủ toạ công đồng Ayutthaya, đã soạn thảo ra tập « Nhắn Nhủ Các Thừa Sai » (Monita ad Missionarios). Trong chương I, đoạn 5, các ngài nói về việc cầu nguyện nơi các thừa sai như sau :

« Có nhiều cách thức nguyện gẫm : cầu nguyện bằng lời, bằng tâm tình, hay bằng chiêm niệm[10]. Sau đây là cách cầu nguyện có lẽ thích hợp nhất cho nhà thừa sai : tâm hồn điều hoà những tiếng động náo nhiệt của lý trí và con tim, không mải mê lý sự, cũng không để tình cảm chi phối, nhưng đặt mình trước mặt Thiên Chúa như một kẻ ăn xin, từ khước trọn vẹn mọi thụ tạo vì yêu mến Tân Lang của mình.

Nhưng tinh thần cầu nguyện chỉ được ban cho người ta do ơn Chúa mà thôi, chính Người sẽ còn gợi ra cho mỗi người con đường phải theo. Vậy nên điều quan trọng là vị thừa sai phải chú tâm xem xét mình sẽ theo cách nào trong ba cách cầu nguyện nêu trên. Hạnh phúc cho ai khi cầu nguyện không còn chút gắn bó nào với những thụ tạo, không thuộc về mình nữa, nhưng phó thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa, tới độ không phải kẻ ấy sống nữa, nhưng chính là Chúa Kitô sống trong kẻ ấy ; cũng không phải kẻ ấy hành động nữa, nhưng là Thiên Chúa hành động qua kẻ ấy ; đến độ kẻ ấy không hành động theo sự thúc đẩy của xác thịt nữa, nhưng theo sự thúc đẩy từ Trời cao ban xuống.

Vẫn biết rằng, tất cả cuộc sống của nhà thừa sai phải là một sự cầu nguyện liên lỉ, và phải gắn bó từng giây phút với Thiên Chúa, nhưng mỗi ngày cần dành ra một thời gian nhất định để thờ lạy Thiên Chúa : ít ra là hai tiếng, đúng theo luật được áp dụng cho phần đông các tu sĩ thừa sai, và theo thói quen còn giữ đến nay nhờ những vị nhiệt tình làm tròn bổn phận tông đồ. Thế nên đừng bao giờ bỏ với bất cứ lý do nào sự thực hành bổ ích này, trừ khi có sự bó buộc chính đáng hay vì bác ái. Ngay cả ở thời đại chúng ta, không thiếu gì những sứ giả Tin Mừng hết lòng hiến dâng, như các thánh Tông đồ, cho việc cầu nguyện và rao giảng. Ban ngày nếu bận rộn và mệt nhọc không có thời gian để cầu nguyện, thì ban đêm họ kiếm cách bù đắp lại, và như thế họ cảm thấy hạnh phúc hơn khi ban ngày đã hoàn toàn dùng thời giờ để làm vinh danh Thiên Chúa, còn ban đêm họ không ngừng tạ ơn vị Hôn Phu trên trời. »[11]

Tập huấn thị trên đã nhắc nhở sự cần thiết của việc cầu nguyện, phải trung thành cầu nguyện và phải cầu nguyện hai giờ mỗi ngày. Tập huấn thị nêu ra ba cách thức cầu nguyện (bằng lời, bằng tâm tình và bằng chiêm niệm), nhưng không giải thích rõ hơn. (Do vậy, người ngày hôm nay khó mà hiểu thế nào là ba cách thức cầu nguyện đó). Tuy nhiên, lối cầu nguyện mà huấn thị đề cao có vẻ rất gần với lối cầu nguyện mà chúng ta gọi là chiêm niệm, tức lối cầu nguyện cao siêu mà chúng ta sẽ gặp thấy nơi Đức cha Lambert.

 

7, Cầu nguyện và hoạt động

Khi còn là một giáo dân, Đức cha Lambert đã là người yêu thích sự cầu nguyện. Từ khi chịu chức linh mục, việc cầu nguyện của ngài lại tăng lên gấp bội. Suốt đời, ngài phải nhận những chức vị cao cả và giữ những phận vụ nặng nề, nhưng so với mọi công việc phải làm, việc cầu nguyện mới là việc hàng đầu của ngài. Cái tuyệt diệu nơi Đức cha Lambert là lối sống hài hoà giữa hoạt động và cầu nguyện. Ngài là vị thừa sai năng động, với những công việc rất hệ trọng, trong một hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã. Nhưng ngài lại là một nhà thần bí, yêu mến thực hành việc cầu nguyện, quý chuộng lối sống ẩn dật và thinh lặng.

Sau khi ngài từ trần, Đức cha Pallu là người bạn thân thiết và rất hiểu ngài, làm chứng rằng Đức cha Lambert đã thực hiện được những công trình lớn lao và rất khó khăn, nhưng « không bao giờ ra khỏi căn phòng mình, hoặc có ra thì cũng cực kỳ họa hiếm, và có thể nói chẳng bao giờ ngài xuất hiện mà ồn ào náo động »[12].

Theo Đức cha Lambert, cầu nguyện phải là nền tảng của mọi hoạt động nơi mỗi thừa sai. Vị thừa sai « không còn hành động bằng sức riêng của mình nữa… [Nhưng] nhờ vào Thần Khí của Con Thiên Chúa… [Chẳng vậy, họ chỉ] là những con người hành động theo những cái nhìn phàm nhân hay theo lý trí con người, và họ thường cầu xin những điều ngược với vinh quang Thiên Chúa và sự hoàn thiện của họ »[13]. Ngài đã dạy rằng : « Nếu phải hoạt động, linh hồn sẽ bàn hỏi với Thần Khí của Chúa Giêsu Kitô đang ở trong linh hồn để biết điều Thần Khí muốn và linh hồn sẽ hoạt động do bởi Thần Khí »[14]. Chính vì lẽ đó, ngài dạy các thừa sai phải để ra ít nhất hai giờ liên tục mỗi ngày cho việc cầu nguyện ; và nếu quá bận việc ban ngày, họ phải lo cầu nguyện ban đêm. Ngài quả quyết : « Cần phải giữ thật nghiêm túc về điểm này và phải tin rằng thà thờ lạy Chúa, dâng lên Chúa các hy sinh của chúng ta và trò chuyện với Ngài còn hơn là đi lo công việc bên ngoài »[15].

Tự ý dấn thân vào quá nhiều hoạt động sẽ dễ làm mất tinh thần cầu nguyện. Đừng nên « bỏ một bên việc cầu nguyện dưới những chiêu đề tốt lành như để đi lo phần rỗi cho tha nhân, làm việc cho vinh quang Thiên Chúa […]. Đã có biết bao nhiêu linh hồn bị huỷ diệt vì đã [tự ý] làm quá nhiều công việc tốt lành »[16].

 

8, Chiêm niệm

Có nhiều cách cầu nguyện (oraison) khác nhau. Đọc kinh là một cách cầu nguyện. Khác với đọc kinh (khẩu nguyện) là cầu nguyện trong tâm trí (tâm nguyện). Cầu nguyện trong tâm trí hay tâm nguyện (oraison mentale) thì có cách suy niệm (méditation) và cách chiêm niệm (contemplation).

Cách thức cầu nguyện nơi Đức cha Lambert là cầu nguyện chiêm niệm.

Chính Đức cha Lambert, khi bàn tới việc cầu nguyện nơi các thừa sai, đã nêu ra cách cầu nguyện chiêm niệm với lời lẽ như sau :

« Cách cầu nguyện này thật đơn giản, đầy tinh thần từ bỏ và đầy lòng tin, là một trong những cách cầu nguyện cao siêu nhất có thể đạt được. Bởi vì, Thiên Chúa làm tất cả mọi sự trong linh hồn, linh hồn chỉ có việc đến trình diện để nhận được các ảnh hưởng của Thần Khí. Thần Khí sẽ gợi hứng cho biết những điều phải xin, với những điều kiện cần thiết để đạt được, và để làm hài lòng Thiên Chúa một cách trọn hảo. »[17]

Để có thể cầu nguyện theo cách thức này, không những chúng ta phải từ bỏ mọi dính líu với bất kỳ thụ tạo nào, nhưng còn phải chết đi cho chính mình nữa, « không bao giờ được hành động theo bản tính tự nhiên hay theo lý trí phán đoán ». Ở đây, chúng ta được hưởng ánh sáng của Chúa để nhìn ngắm Chúa, kết hợp với Chúa và biết việc ta phải làm theo ý muốn của Chúa.

Đức cha Lambert diễn tả cách cầu nguyện đó rằng :

« Nếu muốn biết phương pháp cầu nguyện thánh thiện này thì làm như sau : vì tin rằng Thần Khí đang ngự trong mình, linh hồn chỉ chăm chú lắng nghe Thần Khí. Bởi vì đã chấp nhận đặt mình trong một tình trạng hoàn toàn nghèo khó và tinh thần trần trụi, từ bỏ con người tự nhiên và lý trí, linh hồn ở trong tình trạng đáng được hưởng dồi dào lòng thương xót của Chúa Giêsu Kitô. Ngài đến với linh hồn và thông truyền cho biết những việc quan trọng của Ngài, Ngài kết hợp với linh hồn đang trong tình trạng thụ động ấy, Ngài còn có thể xin Cha Ngài tất cả mọi sự Ngài nhắm tới qua những đau khổ và trên Thánh Giá. »

Mục tiêu của sự cầu nguyện đang nói đây được ngài xác định như sau :

« Sự trọn lành của việc cầu nguyện nằm trong sự kết hợp ngay bây giờ và thụ động với Thiên Chúa luôn luôn hiện diện nơi linh hồn. »[18]

Nghĩa là, khi cầu nguyện, chúng ta được kết hiệp với Chúa ngay từ bây giờ, khi còn ở trần gian này ; chúng ta được ân sủng Chúa dẫn đưa, hành động của chúng ta chỉ là một thái độ đón nhận cách thụ động mà thôi.

Xét cho cùng, có lẽ Đức cha Lambert nghĩ rằng các thừa sai đều được Chúa ban cho ơn cầu nguyện theo cách thức trên, (cách thức mà chúng ta gọi là « chiêm niệm »)[19]. Sau này, khi ngài lập Hiệp Hội Các Tín Hữu Nam Nữ Mến Thánh Giá và Hội Dòng Nữ Mến Thánh Giá, ngài không nêu ra phương cách cầu nguyện cao siêu là chiêm niệm như ngài vừa diễn tả trên đây. Trái lại, ngài chỉ đưa ra những cách thức cầu nguyện phổ thông, tức cầu nguyện bằng cách đọc kinh và suy niệm.

 

9, Đọc kinh

Đọc kinh là phương pháp cầu nguyện lâu đời nhất và bình dân nhất trong Giáo Hội Việt Nam. Đọc kinh chung hay đọc kinh riêng đều là cầu nguyện cả. Mọi thừa sai trước và sau Đức cha Lambert vẫn lưu tâm tới việc đạo đức này. Công đồng Phố Hiến (năm 1670) hay công đồng Hội An (năm 1672), do Đức cha Lambert triệu tập và chủ toạ, đều dạy phải cẩn thận chọn người điều khiển các buổi đọc kinh chung của cộng đoàn các giáo hữu.

Khoản 7 trong văn kiện công đồng Phố Hiến chỉ rằng :

« Ở mỗi nhà thờ có nhiều tín hữu, người ta sẽ đặt những tín hữu đức hạnh nhất, lo việc kinh nguyện trong những ngày lễ buộc… »

Khoản 4 trong văn kiện công đồng Hội An nói rằng :

« Tại những nơi có đông tín hữu, người ta hãy chọn ra một người có tiếng là khôn ngoan và đạo đức. Trong lúc vắng các linh mục hay thầy giảng, người này có thể giúp các Kitô hữu đọc kinh cầu nguyện vào các ngày lễ ».

Đọc kinh còn là cách cầu nguyện mà Đức cha Lambert đã quy định cho các nữ tu Mến Thánh Giá do ngài thành lập. Ngài ghi trong bản luật dòng nữ này rằng :

« Điều 6 : Trong các ngày Chúa Nhật và ngày lễ, các chị em sẽ lần hạt kính Đức Bà.

Điều 7 : Các chị em sẽ ngưng việc vào 9 giờ 30 tối […] đọc kinh mười lăm phút, sau đó các chị em sẽ đi ngủ.

Điều 8 : Các chị em sẽ thức dậy vào 4 giờ sáng để cầu nguyện, bắt đầu bằng các kinh được đọc ngày Chúa Nhật trong cộng đoàn tín hữu. […] Và tiếp theo, các chị em sẽ đọc kinh Cầu Các Thánh, kinh Cáo Mình, kinh Xin Chúa Xót Thương. »

Đọc kinh là cách cầu nguyện thật giản dị, thật phổ biến và thật đẹp. Chính Chúa Giêsu cũng đã dạy các môn đệ của Ngài cầu nguyện theo cách thức này, khi có môn đệ đến xin Ngài : « Thưa thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện… ». Ngài bảo các ông : « Khi cầu nguyện, anh em hãy nói rằng… » (Lc 11, 1). Và hôm đó, Ngài đã dạy các ông Kinh Lạy Cha để các ông đọc kinh cầu nguyện.

10, Suy niệm

Đối với giáo dân và nữ tu, Đức cha Lambert không chỉ dừng lại nơi cách cầu nguyện đọc kinh, ngài còn muốn mọi người thực hành việc cầu nguyện kiểu suy niệm (méditation) nữa. Do vậy, chúng ta thấy trong văn kiện công đồng Phố Hiến, ghi ở khoản 21 rằng :

« Những vị cai quản [các Thầy cả], các Thầy giảng và các Trùm trưởng phải khuyên dạy bổn đạo theo và giữ con đường hẹp, dẫn đưa họ để họ miệt mài với việc cầu nguyện, ít là trong các ngày lễ buộc, và cách riêng suy ngắm trong những ngày đó về sự chết và thương khó Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta… »[20]

Việc cầu nguyện nói đây là tâm nguyện (oraison mentale) ; và suy ngắm (méditer) đây là cầu nguyện theo phương cách suy niệm (méditation).

Ngài cũng đặt để trong quy luật của Hiệp Hội Các Tín Hữu Nam Nữ Mến Thánh Giá việc thực hành này :

« Nhiệm vụ thứ ba : Họ sẽ nguyện ngắm (méditation) mỗi ngày nửa giờ về cuộc đời đau khổ, cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu Kitô. »

Chúng ta đã định nghĩa suy niệm là dùng tâm trí mình mà đến với Thiên Chúa, nhờ ánh sáng cùng ý chí tự nhiên nơi con người mình để hiểu biết và yêu mến Ngài.

Đức cha Lambert xác định mục đích chính yếu của Hội Dòng Nữ Mến Thánh Giá do ngài thành lập là « tuyên giữ đặc biệt việc suy niệm (méditer) mỗi ngày những đau khổ của Chúa Giêsu Kitô, như phương thế hữu ích nhất để đạt tới sự hiểu biết Người và yêu mến Người. » Một hội dòng mang mục đích như thế thì đúng là một hội dòng cầu nguyện. Và trong phần luật dòng, ngài quy định cho các nữ tu của ngài không những việc đọc kinh, mà còn cả việc suy niệm nữa. Ngài dạy mỗi buổi sáng, khi cầu nguyện, phải « dùng một giờ để suy niệm (méditation) một trong các bài đã được soạn sẵn về cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, do chị bề trên hay một chị nào đó đọc cho các chị em nghe. »[21].

Việc suy niệm của các nữ tu ở đây có thêm một yếu tố mới, đó là các bài viết soạn sẵn như phương tiện giúp cầu nguyện.

&

Chúng ta đã khám phá ra phương pháp cầu nguyện của Đức cha Lambert là chiêm niệm, phương pháp mà ngài gọi là « cách cầu nguyện cao siêu nhất có thể đạt được ». Nơi đây, con người sẽ từ bỏ hoàn toàn mọi thụ tạo và chính con người mình, chỉ hoạt động theo hướng dẫn của Thần Khí trong nội tâm mà thôi.

Ngài dạy các nữ tu của ngài và giáo dân phải cầu nguyện theo cách suy niệm. Suy niệm là dùng tâm trí của chúng ta để đến với Thiên Chúa.

Ngoài ra, ngài còn nhắc nhở phải cầu nguyện theo phương pháp thông thường và giản dị nhất là đọc kinh, phương pháp mà chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ Ngài.

« Phương pháp cầu nguyện thì nhiều hơn cát bãi biển »[22]. Biết được phương pháp cầu nguyện của Đức cha Lambert, hay của các vị thánh, là điều tốt và luôn luôn hữu ích cho chúng ta. Tuy nhiên, cái quan trọng hơn cả là phải biết phương pháp cầu nguyện nào Chúa muốn chúng ta theo, phương pháp đó là phương pháp thích hợp và sinh hiệu quả nhất cho chúng ta.

< >

[1] AMEP, tập 121, tr. 664-666 : « De l’oraison d’un missionnaire apostolique dans les lieux de sa mission ». (Đào Quang Toản, Bài Viết Của Đức Cha Lambert, Lưu Hành Nội Bộ, 2012, tr. 34-37 : « Về Việc Cầu Nguyện »).

[2] Jean Guennou, « Mgr Lambert de la Motte, Maître Spirituel », trong báo Échos de la Rue du Bac, Paris, 1991, tr. 33.

[3] AMEP, tập 122, tr. 5.

[4] « Soubs les yeux d’un si bon maistre il marcha à grands pas dans les voyes de l’oraison » (AMEP, tập 122, tr. 5).

[5] Để hiểu phương pháp này, phải đọc tác phẩm của chính ông Bernières là cuốn « Người Kitô Hữu Nội Tâm », gồm 686 trang khổ nhỏ, chia ra thành 8 Quyển : Le Chrestien Intérieur, Paris, Cramoisy, 1662.

[6] Jean de Bernières, sđd., Quyển VII, Chương 6, tr. 559.

[7] Jean de Bernières, sđd., tr. 633.

[8] AMEP, tập 122, tr. 13.

[9] AMEP, tập 122, tr. 43.

[10] « Il y a plusieurs espèces d’oraison : la méditation ou l’oraison de discours, l’oraison affective, et la contemplation. » (Verum quum multiplex sit orationis genus, discursivum scilicet, effectivum, et contemplativum).

[11] Dựa theo bản dịch của Toà Giám Mục Kon tum, Khơi Nguồn Tiến Bước, 2004, tr. 60-61.

[12] A. Launay, Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, tome I, Paris, Téqui, 1894, (rééditions en 2003), tr. 254 : « … sans jamais sortir de sa chambre, sinon fort rarement, ni paraître se remuer pour ainsi dire ».

[13] AMEP, tập 121, tr. 681-682 : « De quelle manière doit opérer un missionnaire apostolique ».

[14] AMEP, tập 121, tr. 664-666 : « De l’oraison d’un missionnaire apostolique dans les lieux de sa mission ».

[15] Như trên.

[16] Jean de Bernières, sđd., tr. 547.

[17] Trích dẫn này và hai trích dẫn tiếp theo đều từ : AMEP, tập 121, tr. 664-665. (Đào Quang Toản, Bài Viết Của Đức Cha Lambert, Lưu Hành Nội Bộ, 2012, tr. 34-37 : « Về Việc Cầu Nguyện »).

[18] AMEP, tập 121, tr. 695 : « La perfection de l’oraison consiste dans l’union actuelle et passive de Dieu toujours présent à l’âme. »

[19] Ông Bernières gọi cách cầu nguyện này là : chiêm niệm, cầu nguyện cao siêu, cầu nguyện thụ động, v.v. Tuy nhiên, ông xác định nhiều lần rằng : « Ơn cầu nguyện cao siêu không được ban cho tất cả mọi người. […] Nếu Chúa không nâng ta lên bậc cầu nguyện cao siêu, ta chớ nên nghĩ cách tìm tới. » (sđd., tr. 681-682).

[20] Bản dịch của Đỗ Quang Chính, Dòng Mến Thánh Giá Những Năm Đầu, Tp.Hochiminh, 2003, tr. 72-73.

[21] Về « các bài đã được soạn sẵn… », chúng ta không hề nghe ai nói tới nữa, có lẽ đã bị thất lạc theo thời gian rồi.

[22] Jean de Bernières, sđd., Quyển VIII, Chương 8, tr. 679.

Thông báo
Chat Facebook (8h-24h)
Chat Zalo (8h-24h)
0338698531 (8h-24h)