Vài nét về linh đạo Đức Cha Lambert – Phần II: Cầu nguyện (1)

Vài nét về linh đạo
Đức cha Lambert

 

Những chữ viết tắt

 

AMEP = Archives des Missions Étrangères de Paris (Thư khố Hội Thừa Sai Paris).

APF = Archivio Storico di Propaganda Fide (Thư khố bộ Truyền Giáo tại Rôma).

Bài Viết = Bài Viết Của Đức Cha Lambert, 2012.

Brisacier = Jacques-Charles de Brisacier, Cuộc Đời Đức Cha Lambert de la Motte, Giám Mục Hiệu Toà Béryte, 2015.

Đặc Sủng = Đặc Sủng Mến Thánh Giá, 2012.

 

Giới thiệu

Năm 2016 này, tôi lại về Việt Nam gặp gỡ và thuyết trình tại vài hội dòng Mến Thánh Giá. Một trong các đề tài được yêu cầu là :

« Chúng con xin Cha trình bày đề tài về Linh Đạo Đức Cha Lambert cách cụ thể để chị em có thể ứng dụng vào thực tế ».

Nhưng để trình bày đề tài này, chúng ta sẽ phải đề cập tới những giáo huấn của Đức cha Lambert vừa lý thuyết lại vừa trừu tượng. Thật khó cho các nữ tu theo dõi và ghi nhớ. Từ đó, tôi mới nghĩ rằng một tập ghi chú những lời dạy của Đức cha Lambert về linh đạo của ngài có thể sẽ hữu ích cho các nữ tu.

Tập tài liệu này được soạn ra vì lý do và mục đích đó.

 

Tại Pháp, ngày 10.06.2016

Lm. Đào Quang Toản

 

Phần II

Cầu nguyện

 

Những chuyện cầu nguyện

Những lời cầu nguyện

Những lời dạy về cầu nguyện

Cầu nguyện theo Đức cha Lambert

Những chuyện cầu nguyện

Đời sống của Đức cha Lambert là một đời sống cầu nguyện. Những câu chuyện kể sau đây là những câu chuyện liên quan tới việc cầu nguyện của ngài, hoặc do chính ngài tường thuật hoặc do người khác kể lại.

 

Khởi sự làm thẩm phán

Người viết tiểu sử Đức cha Lambert đầu tiên là cha Brisacier, bề trên Chủng viện Hội Thừa Sai Paris. Cha này kể rằng khi Đức cha Lambert khởi sự làm thẩm phán tại thành phố Rouen lúc 22 tuổi, « ngài cho mời đến bên ngài vị giáo sĩ đã từng dạy dỗ ngài trước lúc thân phụ quá cố. Ngài nói với ông ta cách rõ ràng là ngài thấy chức vụ hiện tại quá nặng nề đối với một người trẻ tuổi như ngài. Ngài sẽ từ nhiệm ngay sau khi giải quyết xong công việc gia đình. Và ngài xin ông hằng ngày luôn cầu nguyện xin Thiên Chúa ban ơn cho ngài đừng mắc sai lầm xử oan một người nào. » (Brisacier, 10).

 

Sống gần các cha dòng Tên

« Cha Hayneuve dòng Tên là vị linh hướng đầu tiên Đức cha Lambert đã chọn để làm thầy hướng dẫn đời sống Kitô hữu và tu đức cho ngài. Ngài trao đổi đều đặn hằng ngày với cha linh hướng. Và để tiện việc đạo đức, ngài dọn chỗ đến ở bên cạnh trường học của các cha dòng Tên. Cứ năm giờ sáng mỗi ngày, ngài đều đến nhà thờ các cha dòng để nguyện ngắm và đọc kinh nhật tụng theo lòng đạo đức riêng. Sau đó ngài về nhà để lắng nghe các bên kiện cáo đang đợi. Vì mỗi khi tới Tòa án Thuế vụ, ngài phải đi ngang qua nhà thờ chánh tòa, ngài ghé vào để dâng cho Đức Mẹ những án xử ngài sắp phải giải quyết. Sau khi kết thúc phiên toà, trên đường về ngài cũng lại ghé vào dâng cho Đức Mẹ các án xử vừa thực hiện. » (Brisacier, 15).

 

Một vị thầy

« Khoảng cuối năm 1654, Thiên Chúa đã soi lối dẫn đường cho ngài đến sống bên cạnh ông Jean de Bernières ở Caen một thời gian. […] Dưới đôi mắt của một vị thầy giỏi giang như vậy, ngài đã tiến những bước thật lớn trên con đường cầu nguyện, và ngài luôn tha thiết xin Chúa thi ân biểu lộ ra bậc sống nào Chúa muốn cho ngài đi theo. […] Ngài rước lễ hằng ngày, cầu nguyện hầu như liên tục mọi giây phút. Ngài không muốn nghe nói về chuyện đời, không chuyện trò với ai. » (Brisacier, 16-17, 22).

 

Đức Mẹ và thánh Giuse

« Ngài cảm thấy cần phải sùng kính Đức Mẹ và thánh Giuse cách chân thành và tha thiết mỗi ngày mỗi hơn, để tiến xa thêm trên con đường hoàn thiện. Ngài buồn phiền vì nhận thấy cho đến lúc này ngài chưa tôn kính các vị ấy đúng mức. Để đền bù khiếm khuyết đó, ngài hành hương đến Notre-Dame de la Délivrande. Tại đó ngài hết lòng van xin ơn thứ tha tội đã mù quáng và vô ơn đối với Đức Trinh Nữ tuyệt vời cũng như đối với người Bạn đường vô cùng chính trực của Mẹ. Với lòng sốt sắng và phó thác hoàn toàn mới, ngài tự đặt mình dưới sự che chở của các Ngài. » (Brisacier, 21).

 

Tại trung tâm xã hội

« Mỗi ngày ngài thường bớt giờ ngủ để dành 4 hoặc 5 giờ lo cầu nguyện. Thời gian buổi sáng là để chuẩn bị cử hành thánh lễ. Ngài quyết định không chuyện trò với ai trước khi đóng thuế cho Chúa thời gian cầu nguyện và dâng lễ, và ngài xem đây là luật không thể bỏ qua. Buổi chiều tối như đóng dấu ấn cuối ngày cho mọi bận rộn thánh thiện của một ngày, và ngài luôn đến trước Thánh Thể để kết thúc. » (Brisacier, 97).

 

Chuỗi Mân Côi

« Ngài thường xuyên thoát tục với tràng chuỗi Mân côi. Khi ngài ngưng đọc các kinh khác, ngài cũng không rời bỏ tràng chuỗi. » (Brisacier, 104).

 

Tại Antiokia

Trên đường đi truyền giáo, ngày 22.01.1661, Đức cha Lambert và hai thừa sai tới Antiokia. Ngài kể rằng :

« Tại Antiokia không có một bóng người công giáo Rôma nào. Antiokia nằm trên bờ sông Oronthe, cách biển khoảng 6 dặm. Các thừa sai rất đỗi đau lòng khi biết rằng nhà thờ ở đây là nhà thờ đầu tiên do thánh Phêrô thiết lập mà nay là một đền thờ hồi giáo. Họ dục lòng, trong tinh thần của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội, tạ tội với Thiên Chúa theo sự soi sáng trong lòng họ khi họ bước vào miền Á châu. Đó là tự xem mình như các đại diện của Hội Thánh, và trong tinh thần cùng thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa, tất cả cuộc hành trình từ đây tới Trung Hoa phải là một cuộc rước kiệu tạ tội với Thiên Chúa, vì tại chốn này Thiên Chúa đã không được biết đến và không được yêu mến. » (Đức cha Lambert, Ký Sự, AMEP, tập 121, tr. 606).

 

Ba ngày im lặng

Ngày 27.01.1664, Đức cha Pallu và 5 thừa sai từ Âu châu tới Ayutthaya, gặp lại Đức cha Lambert và cha Deydier đã tới đây từ ngày 22.08.1662. Đức cha Lambert kể về cuộc hội ngộ như sau :

« Họ được an ủi thấy mình đoàn tụ lại với nhau nhờ một sự an bài thật đặc biệt của Chúa. Họ đồng ý với nhau ngay từ lúc đầu gặp mặt là sẽ không trao đổi một tin tức nào trong vòng ba ngày. Trong ba ngày đó, họ chỉ lo tạ ơn Chúa nhân từ đã có lòng thương xót cho phép họ được họp mặt bất ngờ như vậy. » (Đức cha Lambert, Ký Sự, AMEP, tập 121, tr. 661).

 

Cầu nguyện 40 giờ

« Các thừa sai đã có ý cầu xin Thiên Chúa một ơn trợ giúp đặc biệt. Vì vậy, chúng tôi quyết định cầu nguyện 40 giờ liên tục và từ nay đặt Mình Thánh Chúa để có thể ngày đêm thường xuyên chạy đến nguồn mạch ánh sáng và ân sủng này. » (Đức cha Lambert, Ký Sự, AMEP, tập 121, tr. 697).

 

Khi bị vạ tuyệt thông

Ngày 02.12.1666, tại Xiêm La, cha Fragoso với tư cách uỷ viên Toà án Dị giáo của toà tổng giám mục Goa đã ra vạ tuyệt thông chống Đức cha Lambert và các thừa sai người Pháp. Sau 22 ngày suy nghĩ, Đức cha Lambert trả lời cha Fragoso rằng :

« Vì muốn theo lời khuyên dạy của Chúa Giêsu Kitô và gương các thánh, chúng tôi quyết chí từ chối không hề sử dụng tới quyền bính được ban cho chúng tôi theo luật tự nhiên, theo luật Giáo Hội và do các vị giáo hoàng trao đặt. Nhưng trái lại, chúng tôi hết lòng cám ơn những kẻ đã cho chúng tôi được hân hạnh chịu sự sỉ nhục tột cùng này. […] Chúng tôi quyết định cầu xin Thiên Chúa nhân từ cho những kẻ ấy và khấn xin cho họ nhận biết rằng trong tất cả mọi cơ hội, chúng tôi không có những người bạn nào tốt hơn nữa. » (Đức cha Lambert, Ký Sự, AMEP, tập 876, tr. 463).

 

Ông hoàng bị bại liệt

« Qua vị pháp sư, nhà vua Xiêm La đề nghị với các thừa sai xin Chúa làm một phép lạ chứng minh tôn giáo của các thừa sai. Rồi vua sẽ tin vào Thiên Chúa mà các thừa sai tôn thờ, cả vị pháp sư nữa. Các thừa sai tin cậy vào lòng nhân hậu, xót thương và toàn năng của Chúa, chấp nhận yêu cầu của vị pháp sư, vị này báo nhà vua biết và xin vua cho hay ngài muốn phép lạ nào. Nhà vua không có con trai và quý mến người em thứ hai mình, trả lời muốn thấy ông hoàng ấy khỏi bệnh bại liệt. Các thừa sai trao gửi những nguyện ước của mình cho trời cao, dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện và các hy sinh trước Mình Thánh Chúa để cầu xin ơn Người. […]

Ít lâu sau, lúc cả triều đình đi tới nơi nghỉ mát của nhà vua, cách kinh thành độ hai dặm, Chúa đã muốn ban ơn thương xót của Người cho ông hoàng ấy một cách đáng chú ý. Khi người ta ít nghĩ tới chuyện này nhất, và khi người ta lại còn có tư tưởng là các thừa sai sẽ không thực hiện được lời đã hứa, thì này đây máu bắt đầu lưu thông trong các tĩnh mạch của đôi chân ông hoàng bại liệt và da thịt tăng trưởng lên trước mắt của toàn thể triều đình. » (Đức cha Lambert, Ký Sự, AMEP, tập 121, tr. 753).

 

Im lặng ba ngày

Vâng lời Đức cha Lambert, cha Bourges đã rời Xiêm La đi Âu châu ngày 14.10.1663. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, cha Bourges trở lại Xiêm La. Ngày 05.01.1669, cha và vài thừa sai khác tới Piply tại miền Nam vương quốc Xiêm La. Đức cha Lambert đang có mặt tại đây. Ngài kể rằng :

« Ngay khi các thừa sai đoàn tụ lại với nhau, chúng tôi liền đề nghị không nói ra một tin tức nào bên Pháp, nhưng trong ba ngày chỉ lo nài xin Thiên Chúa ban ánh sáng cho các công cuộc truyền giáo. » (AMEP, tập 121, tr. 764).

 

Nỗi buồn vô tận

« Đức Giám Mục Bêrite cảm nhận một nỗi buồn vô tận khi thấy những người dân đáng thương trong vương quốc Xiêm La rộng lớn này bị mất linh hồn, họ là những người có bản chất thật tốt lành. Ngài đã tha thiết cầu xin Chúa ban cho họ được hiểu biết và yêu mến Chúa. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký ngày 06.05.1674, AMEP, tập 877, tr. 537).

 

Tìm tự do rao giảng

Năm 1674, khi được tin chúa Nguyễn xứ Đàng Trong cho phép dân chúng tự do theo đạo Thiên Chúa, lại cho mời Đức cha Lambert sang, vua Xiêm La tỏ ra không vui, vì ngài không muốn Đức cha Lambert rời Xiêm La. Ba Đức cha Lambert, Pallu và Laneau, lúc đó đều đang có mặt tại Xiêm La, « đã bàn luận với nhau về công việc truyền giáo và đi đến quyết định sau : Nếu vua Xiêm La nhất quyết muốn Đức cha Bêrite ở lại trong xứ sở của vua, thì sẽ đề nghị với vua rằng : Đức cha Bêrite sẽ theo lời vua với điều kiện vua ban chứng thư cho phép các thần dân theo đạo công giáo và cho phép các thừa sai được giảng đạo khắp mọi nơi. Chúng tôi tin là nhà vua sẽ chấp thuận đề nghị này, theo như ý kiến của một trong các cận thần nhà vua. Chúng tôi quyết định trao dâng việc này cho Chúa như một trong những việc hệ trọng nhất của Giáo Hội, vô số người dân lệ thuộc vào sự ban phép này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký ngày 07.03.1674, AMEP, tập 877, tr. 534).

« Các giám mục quyết định trao dâng công việc lớn lao này lên Chúa Thánh Thần là Đấng giữ chìa khoá mọi tâm hồn, xin Ngài mở cửa lòng nhà vua để vua ban chứng thư có lợi cho đạo Chúa. Các giám mục hứa sẽ xây một ngôi nhà thờ dâng kính Chúa Thánh Thần. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký ngày 05.05.1674, AMEP, tập 877, tr. 537).

« Đức cha Bêrite và Đức cha Métellopolis lên đường đi tới triều đình […]. Sau khi đã bàn thảo kỹ với nhau, chúng tôi đồng ý rằng phải chờ đợi tất cả từ Thiên Chúa và phải cầu xin Chúa một cách đặc biệt cho việc này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký ngày 06.05.1674, AMEP, tập 877, tr. 537).

« Hai giám mục gia tăng những lời van nài rên xiết trước mặt Chúa, xin Chúa ban cho công việc được thành tựu, vì hình như việc cứu rỗi của hằng hà sa số các linh hồn gắn liền với việc này. Trong vòng hai ngày, trời sấm sét lạ lùng, điều đó làm người ta tin rằng ma quỷ rất giận dữ vì chúng tôi đang đeo đuổi công việc này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký ngày 10.05.1674, AMEP, tập 877, tr. 537).

 

Tham khảo ý kiến

(Tại Ayutthaya năm 1674).

« Đức cha Pallu đến hỏi ý kiến Đức cha Lambert về chuyến đi sắp tới của mình sang xứ Đàng Ngoài. Đức cha Lambert cầu nguyện Chúa cho Đức cha Pallu, sau đó mới xin Đức cha Pallu cho biết ngài nghĩ gì về chuyến đi đó. Đức cha Pallu trả lời :

– Tôi nghĩ mình sẽ phạm một sự bất trung, nếu có dịp đi mà lại không chịu đi.

Nghe thế, Đức cha Lambert đã không dám đề cao ánh sáng riêng của mình lên ánh sáng của Đức cha Pallu. Theo ánh sáng riêng của Đức cha Lambert, thì nay đã quá trễ để lên đường ra đi và là tự đặt mình vào nguy hiểm đương nhiên sẽ bị bão tố đắm tàu. Đức cha Lambert suy nghĩ là việc này liên quan đặc biệt tới Đức cha Pallu ; mặt khác, Đức cha Pallu trong chuyện này đã đặt mình vào sự may rủi, vì tình yêu tinh tuyền đối với Thiên Chúa và với bổn đạo của ngài. Ngài có thể đã tin tưởng rằng Chúa nhân lành sẽ bù đắp mọi sự xem ra phản lại với lý trí con người. » (Đặc Sủng, tr. 149).

 

Mừng lễ Đức Mẹ Lên Trời

« Ngày 14.08.1674 : Chúng tôi quyết định đặt Mình Thánh Chúa để mừng trọng thể lễ Đức Mẹ Lên Trời với lòng sốt sắng và xin Chúa, nhờ lời cầu bầu của Rất Thánh Đồng Trinh, ban những phúc lành mới xuống cho công cuộc truyền giáo và các thừa sai.

Ngày 15.08.1674 : Sau khi chúng tôi đã quyết định đặt Mình Thánh Chúa, chúng tôi đã trải qua một ngày lễ lớn cùng thay phiên nhau cầu nguyện trước Mình Thánh Chúa. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1674, AMEP, tập 877, tr. 545).

Đi hay không đi Âu châu ?

Từ năm 1673 trở đi, vua Xiêm La hằng muốn Đức cha Lambert dẫn đầu sứ bộ Xiêm La sang Pháp và Rôma sau khi cuộc chiến giữa Pháp và Hoà Lan chấm dứt.

« Ngày 16.08.1674 : Giữa lúc Đức cha Bêrite nguyện ngắm thì nảy ra trong trí ngài một ý tưởng bất ngờ là ngài phải đi Âu châu mặc dầu lòng ngài đầy những ghê sợ và những lý lẽ ngược lại. Hình như Thiên Chúa muốn điều đó như một lệnh truyền tuyệt đối, để ngài dàn xếp những ích lợi của Thiên Chúa và của Hội Thánh. Phải yêu chuộng các ích lợi đó cách tuyệt đối, trên cả các lý lẽ riêng tư nơi ngài là không đi Âu châu. Ngài đã nhận ra những ý tưởng trên trong tâm trạng là nếu đó là ý Chúa thì ngài không thể từ chối được ; nhưng ngài cũng được phép nghi ngờ cho đến khi nào sự việc đó được chắc chắn hơn, bởi vì có những lý do mạnh mẽ nơi ngài và điều ngài tin chắc là không thể thực hiện chuyến đi xa này. »

« Ngày 14.09.1674 : Lễ Suy Tôn Thánh Giá. Đức cha Bêrite cảm thấy được thúc đẩy cách lạ thường để xin Chúa cho khỏi phải đi Âu châu và được phép chết tại xứ Đàng Trong, chết để suy tôn danh Chúa, ngài đã cầu xin như vậy. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1674, AMEP, tập 877, tr. 545 và 547).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ ngày lễ Giáng Sinh

« Ngày 24.12.1674 : Chúng tôi bắt đầu buổi cầu nguyện 40 giờ đồng hồ trước Mình Thánh Chúa, để xin Chúa ban hồng ân, ánh sáng và phúc lành xuống các thừa sai và công cuộc truyền giáo.

Ngày 25.12.1674 : Chúng tôi lo ban các bí tích cho khoảng 70 người. Họ đã rước lễ và tham dự buổi cầu nguyện 40 giờ đồng hồ trước Mình Thánh Chúa. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1674, AMEP, tập 877, tr. 553).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ ngày lễ Phục Sinh

« Ngày 14.04.1675, lễ Phục Sinh : Chúng tôi lập buổi cầu nguyện 40 giờ trước Thánh Thể để xin Chúa ơn trở lại đạo và xin Người gia tăng ơn lành.

Ngày 15.04.1675 : Chúng tôi chấm dứt buổi cầu nguyện 40 giờ. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1675, AMEP, tập 877, tr. 558).

 

Trước ảnh Đức Mẹ Vô Nhiễm

Đức cha Lambert lên thuyền buôn của chúa Nguyễn để sang Đàng Trong.

« Ngày 28.07.1675 tại Băng Cốc : Đức cha Bêrite đã đi ra cửa biển sau khi trao phó tất cả công cuộc truyền giáo tại Xiêm cho Rất Thánh Đồng Trinh trước ảnh của Mẹ trong nhà thờ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1675, AMEP, tập 877, tr. 563).

 

Sang Đàng Trong

« Ngày 30.07.1675 : Chúng tôi lên tàu khoảng 9 hay 10 giờ sáng. Ngay tức khắc, người ta chất hành lý của chúng tôi lên tàu […]. Nhưng con tàu, dù là một con tàu lớn, lại đầy ắp hàng hoá tới độ phải chất cả vào các khoang tàu. Bởi thế, chỗ người ta dành cho Đức cha Bêrite và hai giáo sĩ cũng đầy hàng hoá, các ngài không sao nằm duỗi chân ra được. Tuy nhiên, chúng tôi hết lòng tạ ơn Chúa vì phải chịu nỗi khổ cực này và nhiều nỗi khổ cực đáng kể khác nữa.

Ngày 31.07.1675 : Chúng tôi ra đi lúc mặt trời mọc, khởi sự cuộc hành trình với tinh thần sẵn sàng cam chịu tất cả những đau khổ có thể xẩy đến. Chắc chắn những đau khổ sẽ không nhỏ. Chúng tôi đón nhận những đau khổ này như để sẵn sàng và để chuẩn bị cho các dự tính mà Chúa nhân từ đặt nơi chuyến đi này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1675, AMEP, tập 877, tr. 563).

 

Ngày 15.08.1675 trên biển

« Ngày 14.08.1675 : Các nhân viên trên tàu xin chúng tôi cầu Chúa cho gió thuận. Chúng tôi hứa với họ là sẽ nhờ lời bầu cử của Rất Thánh Đồng Trinh, Mẹ Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là con người, mà họ gọi là « Bà Ly » và họ nói rằng Bà không có cha nào khác hơn là Trời. Họ có một tấm ảnh của Bà mà họ đưa ra cho chúng tôi xem và họ sùng kính Bà một cách đặc biệt.

Ngày 15.08.1675 : Gió nổi lên mạnh đến nỗi người ta chẳng dám giương hết các cánh buồm ra. Chúng tôi tin rằng đã nhờ ơn của Rất Thánh Đồng Trinh là Người đã xin cùng Chúa cho chúng tôi ân huệ này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1675, AMEP, tập 877, tr. 564).

 

Bé Phêrô tại Huế, năm 1676

Đức cha Lambert chữa lành cho bé Phêrô mới sinh được bốn tháng. Ngài kể :

« Ngày 06.02.1676 : Một người cha và một người mẹ đem đứa con mới sinh được bốn tháng tới vị giám mục và đặt nó dưới chân ngài, đứa bé bệnh nặng, họ nài van ngài thương xót họ. Vị giám mục thông cảm nỗi đau đớn của họ, đã khấn xin Thiên Chúa chữa lành đứa bé và ngài cảm thấy lời cầu xin của mình được chấp nhận. Ngài đọc Phúc Âm theo thánh Gioan trên đứa bé, ngài nguyện vài lời kinh và đổ nước thánh trên mình nó, sau đó thì đứa bé khỏe hơn. Người mẹ ở lại đó suốt đêm, chờ tới sáng để dự thánh lễ của giám mục và lãnh nhận các bí tích ; sau đó, bà ra đi, lòng được an ủi vô cùng. Chúng tôi được hân hoan vì Thiên Chúa đã vui lòng ban sức khỏe lại cho đứa bé, nó tên là Phêrô, là con trai của người con trai duy nhất của ông Tô Mát, người tiếp đón chúng tôi. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 580).

 

Dưới chân Thánh Giá

Trong thời gian Đức cha Lambert thăm viếng Đàng Trong lần thứ hai (1675-1676), « các kẻ theo chế độ bảo trợ truyền giáo Bồ Đào Nha đã tố cáo lên triều đình ba tội rất nặng của ngài : Năm 1669, ngài đã đi xứ Đàng Ngoài là xứ thù địch của triều đình nhà Nguyễn. Năm 1671, ngài đã lén lút vào xứ Đàng Trong mà không có phép của triều đình. Hơn nữa, khi ngài lén lút ra khỏi Đàng Trong, ngài đã dẫn sang Xiêm La một số thiếu nhi là thần dân của chúa Nguyễn.

« Cha giám tỉnh Cardozo dòng Tên đã từ Macao sang Đàng Trong […] tìm cách cáo tội với nhà vua […] về vị giám mục người Pháp, đã ở Đàng Ngoài và từ xứ đó lén vào Đàng Trong, rồi bắt cóc các thần dân sang Xiêm La. Những cáo buộc này là những trọng tội mà ở Đàng Trong đáng phải chịu hình phạt nặng nề nhất. » (AMEP, tập 857, tr. 377-380). Thực ra, chính cha Cardozo khi tới Đàng Trong cũng không có phép của triều đình chúa Nguyễn, cha còn ở lại đây dưới y phục thường dân. Nhân cơ hội này, cha Courtaulin cũng đưa ra ý kiến cáo tội các cha Cardozo, Candone và Acosta đang ở lén lút và ngụy trang tại Đàng Trong, để chấm dứt tình trạng chia rẽ trong giáo phận. Thế nhưng Đức cha Lambert đã không đồng ý với ý kiến này. Câu chuyện trên được Đức cha kể trong lá thư gửi về Paris cho cha Brisacier, ngài giải thích :

« Lúc đó, nếu tôi muốn cho bắt giữ cha giám tỉnh, điều này nằm trong khả năng của tôi, tôi chỉ cần nói một tiếng với vị quan bộ trưởng là con rể của nhà vua và với ông quan trấn thủ là những người đang tìm dịp làm vui lòng tôi. Nhưng sau khi quỳ dưới chân tượng Thánh Giá, tôi không nghĩ tới việc nào khác hơn là làm theo những lời khuyên dạy của Phúc Âm và phó thác chuyện này theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. » (AMEP, tập 858, tr. 361). (Đức Cha Lambert de la Motte, 2016, tr. 40-41).

 

Ngày trở về

« Ngày 11.05.1676, tại Băng Cốc : Đức cha Métellopolis đích thân đến nơi [đón Đức cha Lambert]. Sau khi ôm chào nhau và được biết những phúc lành Chúa ban xuống khắp nơi cho công cuộc truyền giáo, hai ngài hết lòng dâng lời cảm tạ Chúa.

Ngày 12.05.1676 : Hai ngài cùng đi với nhau về ngôi nhà của các ngài tại Ayutthaya. Buổi chiều các ngài tới nơi. Các thừa sai và các chủng sinh ra tận bến đò đón các ngài, và sau đó, tất cả cùng vào nhà thờ hát kinh Te Deum tạ ơn Thiên Chúa. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 585).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ ngày lễ Hiện Xuống

« Ngày 23.05.1676 : Chúng tôi đã bắt đầu buổi cầu nguyện 40 giờ trước Thánh Thể. Và các giám mục đã quyết định xin Chúa rằng, nếu các ngài không dùng thuốc thang bình thường nữa cho các bệnh nhân vì đã có kinh nghiệm từ ít lâu nay, thì xin Chúa chữa thêm nhiều người với nước và dầu mà các ngài đã làm phép, hơn là với thuốc thang quen thuộc.

Ngày 24.05.1676 : Chúng tôi vui mừng lo chuẩn bị mừng lễ Hiện Xuống và cầu nguyện trước Thánh Thể để xin các ơn lành mà chúng tôi đã có ý khấn xin.

Ngày 25.05.1676 : Chúng tôi kết thúc việc cầu nguyện 40 giờ với niềm tin tưởng sâu xa rằng Chúa sẽ vui lòng nhận lời xin của các giám mục về điều các ngài khấn xin. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 585-586).

 

Họp bàn và cầu nguyện

« Ngày 28.06.1676 : Chúng tôi đã họp bàn về các thừa sai vừa mới tới, nhưng trước tiên chúng tôi quyết định phải cầu xin Chúa trong tuần bát nhật lễ hai thánh Phêrô và Phaolô để biết chúng tôi có nên liệu sai người sang Trung Hoa không. Chúng tôi cũng xin Chúa soi sáng cho biết Chúa có muốn một giám mục trở về Âu châu thương lượng các việc của Chúa không, điều này xem ra tối quan trọng. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 587).

 

Nửa đêm trước Thánh Thể

« Ngày 07.07.1676 : Vào khoảng nửa đêm, Đức Giám Mục Bêrite đã đến trước Thánh Thể xin Chúa rằng, vì ngài quá đỗi yếu nhược và đầy đau đớn vì bệnh sạn, ngài có phải nghĩ tới việc đi Âu châu không, điều mà tất cả các thừa sai yêu cầu ngài vì ích lợi của Thiên Chúa và của Giáo Hội. Tiếng trả lời của Chúa là ngài phải thi hành việc đó và vượt lên trên tất cả những khó khăn vì tình yêu của Đấng đã quá đỗi yêu thương ngài. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 588).

 

Không thể dâng lễ được

« Ngày 28.07.1676 : Đức cha Bêrite cảm thấy rất đau đớn ban đêm. Ngài đã không thể dâng lễ được. Ngài đã được hạnh phúc Rước Lễ tại nhà thờ. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 589).

 

Thúc đẩy nội tâm

« Ngày 17.11.1676 : Đức cha Bêrite được thúc đẩy cách đặc biệt phải rút lui vào cô tịch suốt Mùa Vọng để dọn mình cho công việc to lớn nào đó mà ngài tin rằng Chúa muốn thực hiện bên trong nội tâm ngài.

Ngày 18.11.1676 : Đức cha Bêrite lại nhận được những thúc đẩy lui vào cô tịch để tiếp nhận hành động của Thiên Chúa. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676, AMEP, tập 877, tr. 593).

 

Nhật ký cuộc tĩnh tâm 40 ngày

Cuối năm 1676, Đức cha Lambert tạm bỏ Ayutthaya xuống Băng Cốc, tĩnh tâm 40 ngày. Sau đây là vài ghi chú của ngài trong nhật ký có liên quan tới việc cầu nguyện :

« Ngày 26.12 : Đức Giám Mục Bêrite thấy tinh thần mình được giải thoát cách tuyệt vời khỏi tất cả mọi sự, điều đem lại cho ngài tràn trề niềm vui đặc biệt.

Ngày 27.12 : Đức Giám Mục Bêrite cảm thấy mình ở trong cùng tâm trạng như hôm qua và trong ý tưởng tiếp tục cuộc tĩnh tâm 40 ngày.

Ngày 28.12 : Đức Giám Mục Bêrite thấy mình được hoàn toàn thoát khỏi tất cả mọi sự.

Ngày 30.12 : Đức Giám Mục Bêrite cảm nhận rõ ràng tình trạng hoàn thiện được thông ban cho ngài trong lúc ngài cầu nguyện, đó là sự kết hiệp trọn vẹn linh hồn với Thiên Chúa.

Ngày 01.01.1677 : Đức Giám Mục Bêrite lập lại tất cả các lời tuyên hứa của đời ngài với Thiên Chúa, ngài cảm thấy rất an tâm được Chúa yêu thương. Ngài tha thiết nài xin Chúa ban sự hiệp nhất giữa Chủng Viện Xuân Bích với ba giáo phận tông toà Trung Hoa. Sau đó, ngài cảm thấy rõ vấn đề này sẽ được thành tựu vào năm này, lòng từ bi của Chúa sẽ cho ngài nhận được những sự thương xót cao cả.

Ngày 02.01 : Trong lúc cầu nguyện, ngài đã nhận được những ý tưởng đặc biệt về sự tinh tuyền phải có để đạt tới sự kết hiệp tối cao với Thiên Chúa, điều đó khiến ngài xấu hổ vì thấy mình còn quá xa vời. Ngài tin rằng ít kẻ nơi trần gian này biết đến sự tinh tuyền như vậy.

Ngày 04.01 : Tất cả việc cầu nguyện là xin Chúa ban cho được hiểu biết và yêu mến Chúa, điều mà Chúa ban cho những ai Chúa nâng lên sự kết hiệp thân tình với Chúa. Ngài đã cầu xin điều đó, vì ngài thấy rằng nếu không được như vậy, người ta chỉ hiểu biết và yêu mến Chúa một cách thấp hèn và rất nhỏ mọn.

Ngày 05.01 : Tất cả việc cầu nguyện là lòng ước ao tột độ được kết hiệp với Chúa, cùng một quyết tâm làm mọi sự để loại bỏ tất cả trở ngại có thể ngăn cản ngài kết hiệp với Chúa.

Ngày 06.01 : Lời cầu nguyện là những ao ước và rên xiết để đạt tới trạng thái kết hiệp trọn hảo với Chúa, cùng lòng hối tiếc và lo sợ không thể đạt tới được.

Ngày 07.01 : Tôi vẫn thiết tha ao ước sự kết hiệp thân tình với Chúa.

Ngày 08.01 : Tôi cầu xin nhiều cho sự liên kết với Chủng Viện Xuân Bích, chúng tôi rất an tâm trong lời cầu nguyện, xin cho Chủng Viện này [cùng chúng tôi] tạo thành một tổ chức tông đồ. Tôi hằng mong đợi sự đó từ bao lâu nay.

Ngày 10.01 : Lúc cầu nguyện, Đức Giám Mục Bêrite đã tha thiết nài xin Chúa cho được kết hiệp mật thiết với Chúa và được chết cho tình yêu Chúa bằng một cái chết đau đớn. […] Tôi cám tạ Chúa ban tin vui về vị hoàng đệ nhà vua. Ông ta nói với một người quen, tay chỉ vào tượng Thánh Giá mà Đức cha Bêrite đã tặng ông ngày trước, rằng ông thờ kính Thiên Chúa mỗi ngày, và ông cầu xin Thiên Chúa ban cho ông được khoẻ mạnh trở lại. Được tin đó, tôi đã có ý khẩn nài Chúa cách đặc biệt hãy dùng việc này như đường lối sắp đặt cho đạo Chúa thêm uy tín trong lòng nhà vua và toàn thể triều đình.

Ngày 16.01 : Đức Giám Mục Bêrite đau đớn than van cùng Chúa vì biết bao nhiêu linh hồn tại vương quốc này bị hư mất và ngài khấn xin Chúa hãy tỏ quyền năng vô song của Chúa và sự thật của đạo Chúa, bằng những dấu hiệu đặc biệt cần thiết, để lôi kéo những dân tộc nơi này ra khỏi các mê tín của họ.

Ngày 17.01 : Tất cả việc cầu nguyện là xin đi Cam Bốt và đem lại ơn cứu rỗi cho các linh hồn đáng thương nơi đó, họ rất cần được trợ giúp.

Ngày 18.01 : Ý tưởng là xin Chúa ban sự truyền bá đức tin tại vương quốc này và xin Chúa vui lòng tỏ mình ra qua vài dấu hiệu đặc biệt bằng cách cho một nhân vật có quyền bính nào đó được lành bệnh .

Ngày 19.01 : Nơi sâu thẳm của việc cầu nguyện là nhìn thấy tình trạng khốn cùng của con người và hết lòng rên xiết nài xin Chúa cho được biến đổi trọn vẹn trong Chúa, bằng không chúng ta còn theo một cuộc sống đầy dẫy những bất toàn.

Ngày 20.01 : Khi cầu nguyện, tôi vẫn nhìn thấy và vẫn có những ý tưởng giống như ngày hôm qua.

Ngày 21.01 : Nhờ ánh sáng ban xuống, tôi hiểu được sự tinh tuyền tột độ mà Chúa đòi hỏi nơi linh hồn, linh hồn không thể tự mình đạt được sự tinh tuyền đó, linh hồn nài xin Chúa ban sự tinh tuyền bằng những lời rên xiết tự đáy lòng. Sau đó, một vài điều bất toàn không phải là tội lỗi đã được khám phá ra, tôi xin Chúa ban ơn sửa đổi.

Ngày 23.01 : Tôi chú tâm xin Chúa ơn trở lại cho các dân tộc nơi vương quốc này là những dân tộc hiền lành nhất và đơn sơ nhất có thể gặp được, bằng dấu đặt biệt chữa lành bệnh cho vài nhân vật vị vọng, như Chúa đã làm nơi nhiều người trong các làng mạc và các nơi lân cận đây.

Ngày 25.01 : Ý tưởng là tha thiết nài xin Chúa hãy vui lòng tiếp tục cuộc hiến tế khổ nhục của Chúa để tôn vinh Chúa Cha và xin ơn trở lại cho các kẻ ngoại, cùng xin được một cái chết đau đớn.

Ngày 26.01 : Tôi được tin hoàng đệ của vua từ trần, vị hoàng đệ này đã được chỉ định thừa kế ngai vàng. Tôi chú tâm khẩn nài Chúa ban sức khoẻ cho vị hoàng đệ bị liệt chân, vị này là dự tòng, vị này có thể nối nghiệp nhà vua và ưu đãi đạo Chúa trong mọi sự. Điều khiến tôi hết lòng nài van Chúa ơn huệ trên, đó là nếu nhà vua từ trần, chắc chắn rằng người Hồi giáo sẽ chiếm vương quốc này.

Ngày 27.01 : Tôi hết lòng xin Chúa hãy cho các dân tộc nơi đây được nhận biết Chúa. Với tính đơn sơ và phúc hậu tự nhiên nơi họ, họ thật đáng được Chúa thương xót.

Ngày 28.01 : Tôi nhìn thấy hôm nay chính là ngày tôi chào đời. Tôi tạ ơn Chúa đã ban đời người mà tôi nhận được từ Ngài, và cầu xin Chúa hãy sử dụng con người tôi, bằng hành động trực tiếp của Ngài, vào những gì là ích lợi nhất cho danh Chúa và cho việc hoán cải các linh hồn. Và để đạt được hồng ân trọng đại đó từ lòng nhân lành của Chúa, tôi đã dâng hy lễ bàn thánh.

Ngày 30.01 : Tôi biết rằng sự hoàn thiện của tình trạng này nằm ở chỗ đặt tất cả mọi sinh hoạt của mình vào Thiên Chúa và trong một hành động yêu mến không ngơi, theo mức độ mà cuộc sống này cho phép. Tôi thấy rằng tình trạng đó đòi hỏi sự cô tịch nội tâm rất lớn, đến độ người ta không hề được rời đi vì một việc nào khác, nếu chúng ta không bị bó buộc theo chức vị mình, hay nếu chúng ta không cảm thấy được kêu gọi do thúc đẩy nội tâm.

Ngày 31.01 : Tôi thấy rằng sự hoàn thiện của cuộc sống này hệ tại vào những hành động mà linh hồn phải luôn luôn tập trung vào, với hết khả năng của mình. Linh hồn chỉ rời đi để lo việc bổn phận theo nghĩa vụ mình. Ngoài ra, linh hồn phải triền miên đáp lại những chỉ dẫn của Thiên Chúa thực hiện trong linh hồn.

Ngày 01.02 : Tôi hết lòng xin Chúa, nhờ giá trị và công nghiệp của hiến tế Thánh Giá và Thánh Lễ, cả hai đều giống nhau, hãy vui lòng cho triều đình này được nhận biết Chúa, bằng việc chữa lành đặc biệt nào đó, bởi vì sự cứu rỗi của bao nhiêu người dân đáng thương lệ thuộc vào điều trên. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1676-1677, AMEP, tập 877, tr. 595-596).

 

Xin ơn trở lại cho vua Xiêm La

« Ngày 02.02.1677 : Vào cuối cuộc tĩnh tâm 40 ngày, chúng tôi đã có ý khởi đầu một tuần cửu nhật để cầu khấn Chúa, dưới sự bảo trợ của Rất Thánh Đồng Trinh và thánh Giuse vinh hiển, xin Chúa vui lòng cho triều đình Xiêm La nhận biết Chúa, bằng một vài dấu hiệu đặc biệt nào đó, hầu danh Chúa được vinh hiển và các linh hồn trong vương quốc này được ơn trở lại đạo. Chúng tôi đã đề nghị ý kiến này với cha Chandebois và cha Thomas, họ đã tán thành, do vậy chúng tôi quyết định mỗi ngày sẽ dâng hy lễ bàn thánh, cùng dâng các việc cầu nguyện và ăn chay theo ý nguyện trên.

Ngày 04.02 : Chúng tôi đã tha thiết van nài Chúa thương tiếp tục lòng thương xót của Chúa và ban cho triều đình xứ này nhận biết Chúa, qua dấu hiệu đặc biệt nào đó. Chúng tôi rất hy vọng và đặc biệt tin tưởng trong lời cầu xin.

Ngày 10.02 : Chúng tôi hoàn tất tuần cửu nhật với lòng tin tưởng mạnh mẽ rằng Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra qua vài dấu hiệu đặc biệt để danh thánh của Chúa được tôn vinh và các linh hồn nơi vương quốc này được trở lại. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1677, AMEP, tập 877, tr. 595 và 597).

 

Kỷ niệm ngày rửa tội

« Ngày 14.02.1677 : Đức Giám Mục Bêrite chuẩn bị tâm hồn để tuyên thệ lại những lời hứa bí tích rửa tội của ngài vào ngày 15 tháng này. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1677, AMEP, tập 877, tr. 597).

 

Xin kéo ra khỏi thế gian

« Ngày 03.08.1677 : « Đêm qua, Đức Giám Mục Bêrite vô cùng đau đớn vì một cơn nóng sốt khủng khiếp do bị cảm nặng và vì quá nhiều công việc gây ra. Ngài đã xin cùng Chúa, nếu Chúa thấy là tốt, thì hãy kéo ngài ra khỏi trần gian này, bởi ngài thấy mình không còn hữu dụng trong công việc và lo sợ hiện trạng mình bị suy giảm. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1677, AMEP, tập 877, tr. 603).

 

Muốn sang Đàng Trong

« Ngày 27.10.1677 : Chúng tôi lấy quyết định cuối cùng sau khi đã cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Đó là chúng tôi sẽ phó thác hoàn toàn vấn đề đi Âu châu cho Chúa quan phòng, và Đức cha Bêrite sẽ chuẩn bị mọi sự để sang xứ Đàng Trong.

Ngày 28.10.1677 : Đức cha Bêrite hết lòng tạ ơn Chúa cho quyết tâm ngày hôm qua, vì ngài đã được soi sáng rất nhiều về điểm đó. Do vậy, ngài hạ mình sâu thẳm để thờ lạy và ngợi khen những phán đoán của Đấng Quan Phòng. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1677, AMEP, tập 877, tr. 606).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ lễ Giáng Sinh

« Ngày 24.12.1677 : Chúng tôi đã đặt Mình Thánh Chúa và khởi sự buổi cầu nguyện 40 giờ để xin Chúa tiếp tục và tăng thêm lòng thương xót của Chúa trên các vị thừa sai của chúng tôi.

Ngày 25.12.1677 : Đêm nay, có rất nhiều người đến tham dự với lòng sốt sắng.

Ngày 26.12.1677 : Chúng tôi hoàn tất buổi cầu nguyện 40 giờ với lòng rất sốt sắng và có sự tham dự của nhiều người. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1677, AMEP, tập 877, tr. 608).

 

Ngày đầu năm

« Ngày 01.01.1678 : Chúng tôi lập lại các lời tuyên hứa với Thiên Chúa và xin Chúa tăng thêm lòng thương xót của ngài, cho sự hoàn thiện riêng của chúng tôi cũng như cho các linh hồn trở lại. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1678, AMEP, tập 877, tr. 608).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ lễ Phục Sinh

« Ngày 09.04.1678 : [Thứ Bảy Tuần Thánh] Chúng tôi đã rửa tội năm dự tòng và khai mạc buổi cầu nguyện 40 giờ trước Mình Thánh Chúa, với nhiều người tham dự và với lòng sốt sắng.

Ngày 10.04.1678 : [Phục Sinh] Chúng tôi đã rất bận việc ban các bí tích và mừng lễ. Lễ diễn ra rất sốt sắng với nhiều người tham dự.

Ngày 11.04.1678 : Chúng tôi vui mừng kết thúc buổi cầu nguyện 40 giờ. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1678, AMEP, tập 877, tr. 612).

 

Chầu Thánh Thể 40 giờ lễ Hiện Xuống

« Ngày 28.05.1678 : Chúng tôi bắt đầu buổi cầu nguyện 40 giờ trước Thánh Thể vào lúc 5 giờ chiều. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1678, AMEP, tập 877, tr. 614).

 

Nhận mọi tin tức với lời cầu nguyện

« Ngày 21.07.1678 : Chúng tôi đã nhận được những gói đồ từ Surate, nhờ đó chúng tôi được tin vui Đức cha Héliopolis đã tới Pháp và từ thành phố Marseille, ngài khởi hành sang Rôma. Chúng tôi tạ ơn Chúa.

Đức cha Bêrite được tin rằng các kẻ thừa tự của ngài [bên Pháp] đã chia chác với nhau tài sản của ngài mà không hề có lệnh của ngài và họ tự ý ban quyền riêng cho họ. Ngài chúc tụng Chúa khi thấy người ta đối xử với ngài ngay lúc ngài còn sống như một kẻ đã chết vậy. » (Đức cha Lambert, Nhật Ký năm 1678, AMEP, tập 877, tr. 615)

< >

 

 

Thông báo
Chat Facebook (8h-24h)
Chat Zalo (8h-24h)
0338698531 (8h-24h)