Niềm hy vọng của kẻ trộm

Can-vê chiều buồn, đau thương. Một Thiên Chúa chịu treo mình giữa trời đất, lặng nhìn nhân loại đang vùng vẫy trong tội lỗi. Không một lời oán trách, Người chỉ thốt lên lời van xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Người xin tha cho tất cả: kẻ nộp mình, kẻ chối từ, kẻ đánh đập, kẻ đội mão gai, kẻ khinh chê, kẻ nhạo cười, kẻ đóng đinh, và cả những con người dửng dưng đứng nhìn.

Trên ngọn đồi ấy, có ba người cùng bị đóng đinh: Chúa Giê-su ở giữa hai tên gọi là kẻ trộm. Có điều, trong hai kẻ trộm ấy, một người lại được nhớ đến với cái tên rất khác – “trộm lành”. Phải chăng chính lời cầu xin của Chúa Giê-su đã chạm đến anh “trộm lành”? Phải chăng trong khoảnh khắc cận kề cái chết, anh đã nghe được nhịp đập của lòng thương xót và nó đã đánh thức lương tâm anh?

Trước hết, chúng ta có thể kể đến chính là sự ý thức về tội lỗi. Anh không biện minh, không trốn tránh nhưng khiêm tốn nhìn nhận: “Chúng ta chịu như thế này thật là đích đáng, vì xứng với việc đã làm” (Lc 23, 41). Cảm thức về tội lỗi nơi tâm hồn anh cũng chính là kinh nghiệm của Thánh Phê-rô khi ngài chân thành thốt lên: “Lạy Thầy, xin tránh xa con là kẻ tội lỗi” (Lc 5, 8). Tuy nhiên, những cảm thức này liệu còn được vọng ngân trong lương tâm nơi con người thời đại ngày hôm nay nữa hay không?

Từ sự ý thức về tội của mình dẫn đến việc anh xét mình và đi xưng tội. Thường các hối nhân đến với Bí tích Hòa giải là vì họ tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Anh trộm lành đã nhận ra anh cần đến sự thương xót của Thiên Chúa. Chính vì vậy, anh hy vọng mình được Thiên Chúa thứ tha và xót thương ngang qua Chúa Giê-su. Điều này không hề dễ dàng đối với người Ki-tô hữu trong lúc phải đối diện với thử thách, khó khăn và đau khổ mà không thấy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Thứ đến, chúng ta có thể nhìn nhận rằng, anh là một con người sống theo sự thật. Anh dám nói thật về bản thân với những lầm lỡ và tội lỗi. Anh dám chứng nhận người chịu đóng đinh cùng mình là người vô tội: “Ông này đâu có làm điều gì trái” (Lc 23, 41). Một tội nhân đang lên tiếng bảo vệ, đòi lại công minh cho người bị oan ức. Đây là điều không phải tội nhân nào cũng có thể làm được. Nhưng dường như lời kháng cáo đó của anh không được nhân loại đón nhận. Bởi không một ai dám đứng về phía sự thật, không một ai dám nói về sự thật. Nhân loại chỉ biết gào thét đòi công lý cho sự gian ác: “Thả Ba-ra-ba cho chúng tôi” (Lc 23, 18) mà nhắm mắt làm ngơ, chà đạp lên chân lý: “Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá” (Lc 23, 20). Một thực tại thật đắng lòng! Mọi cố gắng, can đảm của anh trở nên vô nghĩa trước sự đóng băng của lòng người. Mặc dù vậy, trong sự vô nghĩa đó lại ẩn giấu một niềm hy vọng mạnh mẽ của anh vào chân lý và sự thật nơi Thiên Chúa như chính Chúa Giê-su đã nói: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. (Ga 14, 6)

Qua hai đặc điểm này, chúng ta có thể khẳng định sự ngay thiện vẫn hằng hiện diện trong lương tâm của anh trộm. Anh vẫn lắng nghe và làm theo tiếng nói của lương tâm. Dẫu nhận ra thân phận tội lỗi vô vàn của mình nhưng không vì thế mà anh đóng cửa lại với lời mời gọi hoán cải của Thiên Chúa được vang vọng nơi sâu thẳm cõi lòng. Anh dám cho mình một cơ hội để làm lại. Và quan trọng hơn hết, anh dám để cho Thiên Chúa có cơ hội được can thiệp vào cuộc đời tăm tối của anh. Chỉ cần vậy thôi đã đủ điều kiện để anh được Thiên Chúa trao ban thẻ căn cước công dân Nước Trời.

Không chỉ dừng lại ở đó, anh trộm lành còn có một bước tiến xa hơn. Anh khẳng khái, thẳng thắn tuyên xưng công khai niềm tin của mình vào một người tử tội bất lực, bị đóng chặt vào cây Thập giá: “Ông Giê-su ơi, khi nào ông về Nước của ông, xin nhớ đến tôi (Lc 23, 42). Anh trộm cả gan dám kêu tên cực trọng danh thánh Đức Giê-su. Chính nhờ sự mạnh dạn cả gan này đã giúp anh xác tín chắc chắn vào lời tuyên xưng của anh hơn cả niềm tin của những người thông luật và kinh sư. Anh tuyên xưng Đức Giê-su là Thiên Chúa thật, là Đấng cứu độ nhân loại. Anh không giống như tên trộm kia hống hách, kiêu ngạo thách thức Thiên Chúa: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với” (Lc 23, 39). Hỏi rằng để có được niềm tin này anh có được biết về Chúa Giê-su trước không? Anh có được đào tạo kiến thức thần học cao siêu về Người không? Hay anh có được nghe Chúa Giê-su giảng dạy, được chứng kiến những phép lạ của Người đã làm không? Vậy đâu là nguyên cớ để anh có được một niềm tin, niềm hy vọng xác quyết và mạnh mẽ như vậy?

Nguyên nhân dẫn đến một niềm tin đơn sơ nhưng rất chân thành này được bắt nguồn từ chính cuộc gặp gỡ tình cờ trên cây Thập giá. Chính Chúa Giê-su đã chiếm đoạt được hoàn toàn lương tâm và con tim của anh trộm. Một sự gặp gỡ có vẻ như ngẫu nhiên nhưng kết quả dường như đã có sự an bài từ trước. Tuy buổi chiều Can-vê rất đau thương và bi lụy nhưng nhờ một dấu chấm nhỏ này đã phá tan bầu khí u sầu, ảm đảm. Thay vào đó là một bầu trời của hy vọng, mừng vui trào tràn sức sống. Giờ đây, Thập giá trở nên cầu nối cho hai tâm hồn, hai trái tim cùng hòa chung một nhịp đập. Thật tuyệt vời trước cảnh tượng sống động của một hối nhân khiêm nhường với một vị Thiên Chúa yêu cho đến tận cùng.

Người trộm lành đã thực hiện một cuộc hoán cải hoàn toàn. Này đây tấm áo tinh tuyền bị lấm lem, ô nhơ, bẩn thỉu giờ đây đã được tẩy sạch trắng tinh trong Máu Giê-su. Con tim tan nát, tổn thương vì tội lỗi giờ đây được chữa bởi tình yêu Giê-su. Phẩm giá đã bị đánh mất nay được phục hồi- từ một tội nhân trở thành thánh nhân trong chớp mắt. Chính Chúa Giê-su là người tuyên thánh cho anh cách trực tiếp và chắc chắn: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh được ở với tôi trên thiên đàng.” (Lc 23, 43)

Theo lẽ thường các thánh chỉ được tuyên phong khi các ngài đã trở về với Chúa. Riêng đối với anh trộm lành, anh được làm thánh ngay khi anh còn đang sống trên trần gian. Chính Chúa Giê-su tuyên bố anh là một vị thánh sống để đời đời vẫn hằng nhắc nhớ đến anh. Vì sao Chúa Giê-su có thể tuyên phán như vậy cho một kẻ trộm? Lý do đơn giản chỉ vì Ngài cảm mến trước sự khiêm nhường thẳm sâu nơi tâm hồn bé nhỏ này. Anh trộm không thẳng thừng ra lệnh cho Chúa Giê-su phải cho anh vào Thiên Đàng sau khi đã xét  mình, xưng tội, đền tội và tin vào Ngài. Anh vẫn luôn nhìn nhận sự thấp hèn, nhơ nhớp của bản thân và không thấy xứng đáng nên chỉ dám xin được nhớ đến. Anh để lại quyền quyết định cho Chúa Giê-su. Tâm tình này của anh cũng giống như của người bị phong cùi: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Mc 1, 40). Một sự hy vọng, tin tưởng, hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa đã được nhận lại một kết quả viên mãn. Vì vậy, danh hiệu – người đứng hàng đầu danh sách các thánh thuộc về anh trộm lành quả thực là chính đáng.

Trong khoảnh khắc, một tội nhân đã trở thành thánh nhân. Anh không những trộm được cả Thiên Đàng mà anh còn trộm được cả trái tim và tình yêu của Chúa Giê-su. Để từ đây, Ngài trở thành vua của lòng anh và anh là thần dân của Vương quốc Giê-su.

Niềm hy vọng của anh trộm lành” là thế đó….

Hv K.2023
Hội dòng MTG Hà Nội

 

Thông báo
Chat Facebook (8h-24h)
Chat Zalo (8h-24h)
0338698531 (8h-24h)